Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • KHÁCH VÀO NHÀ

    0 khách và 0 thành viên

    THÔNG TIN ADMIN


    Admin:Phạm Sa Kin
    Phái:Nam
    Sinh nhật:01-01-1961
    Khai sinh CT:20-01-1963
    Ảnh Admin: Xem ở đây
    Đơn vị CT:Trường THCS Cát Hiệp -P.Cát
    Chuyên môn:Lý - Kĩ thuật - Công nghiệp
    Địa chỉ:Cát Hanh - P.Cát-Bình Định
    Liên hệ Email:KingTHCSCatHiep@yahoo.com.vn
    Gửi ý kiến cho admin: Tại đây
    ĐT liên hệ:0985 651 402
    Lập Website: 12-12- 2010
    Chuyển tên miền Website: 11h 00.13 – 03 – 2011

    KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

    THỬ CODE - MÃ MÀU - HTML

    TOÁN - LÝ - HÓA ONLINE

    Tài nguyên dạy học

    LIÊN KẾT WEBSITE GV

    Cafe 0 giờ

    CAFE SÁNG

    LIÊN KẾT WEBSITE HAY

    MỖI SÁNG THỨC DẬY

    CHUYỂN ĐỔI NGÔN NGỮ


    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trương Hoàng Anh - 0982124899)
    • (Phạm Sa Kin)
    • (Mr.Hữu Nhân - 0167.85.88.485)
    • (Đặng Quốc Thư (quangthu05@Gmail.com)

    DESIGN BY-CH

    THI CỬ THỜI HIỆN ĐẠI


    Photobucket
    COI TÀI LIỆU , TRAO ĐỔI, QUAY CÓP QUÁ ĐÃ CHỈ CÓ Ở THỜI ĐẠI ĐIỆN TỬ CÓ KHÁC !!!!. BẠN VIẾT NHIỀU RỒI, VIẾT TOÀN CHỮ VIẾT CỦA NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH À ... THÔI, KHÔNG VIẾT NHIỀU NỮA BẠN ƠI . VÌ CHÚNG MÌNH XÀI CHỮ VIẾT CỦA NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH NÊN QUÝ THẦY CÔ KHÔNG HIỂU VÀ ĐỌC KHÔNG RA ĐÂU NHÁ. BÀI LÀM ÍT ĐIỂM ĐÓ CÁC BẠN Ạ !!!!
    Gốc > THỨC ĂN CHĂN NUÔI > NUÔI GIA SÚC >

    Một số phương pháp chế biến thức ăn thô xanh ngoài cỏ

     

    T

    hức ăn thô xanh luôn có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thay thế đối với gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu, thỏ, hươu, nai, nhím, … và là thức ăn truyền thống khá hiệu quả đối với chăn nuôi lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng.Với nhu cầu trung bình 30 kg thức ăn thô xanh mỗi ngày của trâu, bò; 5-7 kg/ ngày ở dê, cừu, hươu, nai; 3-5 kg/ ngày ở nhím, thỏ, … cũng là bài toán khá phức tạp đối với chăn nuôi nông hộ khi việc chăn thả tự nhiên ngày càng khó khăn do đất bị thu hẹp và kém hiệu quả bởi chất lượng cỏ tự nhiên vừa thiếu vừa nghèo dinh dưỡng. Khả năng trồng cỏ còn nhiều hạn chế và cỏ vẫn có tính thời vụ nên vào mùa đông, khô hanh cỏ không mọc được thì trâu, bò … lại thiếu thức ăn, tăng trọng kém, sụt sữa, chịu rét kém, …

    Với thực trạng này, việc kế thừa và phát hiện những nguồn thức ăn thô xanh khác ngoài cỏ là một hướng đi đúng đắn trong giai đoạn hiện nay. Các nguồn thức ăn thô xanh ngoài cỏ ở Việt Nam rất phong phú và sẵn có ở mọi vùng, miền trên cả nước. Phương pháp chế biến lại đơn giản nên nếu biết thu gom, chế biến và bảo quản hợp lý thì người chăn nuôi sẽ chủ động được nguồn thức ăn rẻ tiền, khắc phục được tính thời vụ và giàu dinh dưỡng, đảm bảo hiệu quả chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc ăn cỏ.

    Thức ăn thô xanh ngoài cỏ có nhiều loại: Các loại cây thức ăn như chuối, bèo, susu, khoai lang, khoai ráy, ngô, … và các loại phụ phẩm công, nông nghiệp như rơm, thân lá ngô sau thu hoạch, thân lá khoai lang, thân lá lạc, vỏ và bã ép của các loại quả trong công nghệ sản xuất hoa quả sấy, vỏ thịt quả cà phê, quả giả điều, lông vũ, thịt xương sau giết mổ, chế biến thịt hộp, …

    Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi mong muốn giới thiệu những phương pháp đơn giản, hiệu quả nhất hiện nay để bà con nông dân ở bất kỳ vùng, miền nào trong cả nước cũng có thể áp dụng được ngay tại nông hộ của mình, tăng tính chủ động nguồn thức ăn cho đàn gia súc, giảm giá thành chăn nuôi, tăng tính cạnh tranh và hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ "sạch", hiệu quả và bền vững.

    I. Một số phương pháp chế biến rơm

    1. Chế biến rơm tươi

    1.1. Chuẩn bị

    * Rơm: Để tận thu nhiều nhất được nguồn nguyên liệu dồi dào này, bà con nông dân nên tháo nước ruộng trước khi gặt khoảng 3-4 ngày cho khô đồng để có thể cắt sát gốc hơn và phơi rơm ngay tại ruộng từ 1-2 nắng.

    * Hố ủ: Đối với phương pháp ủ rơm tươi thì hố ủ có vai trò cực kỳ quan trọng vì hố ủ có chắc chắn thì mới tạo điều kiện cho các cách nén chặt đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện để loại hết không khí tồn tại trong các khe giữa các mẩu cây thức ăn, từ đó đảm bảo môi trường yếm khí hoàn toàn, thúc đẩy thuận lợi quá trình lên men yếm khí của thức ăn xanh, đảm bảo chất lượng thức ăn ủ xanh. Hố ủ thức ăn cho gia súc có thể tận dụng bằng thùng phi, bao xác rắn, bao nilong to, bao đựng phân đạm, gian chuồng nuôi gia súc bỏ không, đầu hồi nhà, … nhưng thường khó làm, cồng kềnh trong bảo quản, chất lượng thức ăn ít đảm bảo do khó nén chặt, kém thuận tiện khi sử dụng, …Với những loại hố ủ tận dụng nên chú ý phơi thức ăn hơi khô hơn một chút (độ ẩm cần đạt khoảng 65%) để tránh lượng dịch lớn sinh ra trong quá trình lên men và tích tụ dưới đáy hố gây thối hỏng lớp thức ăn bên dưới.Loại hố ủ đất còn đơn giản hơn là chỉ cần đào một hố đất ở nơi cao ráo, thoát nước, nơi đất quánh, tránh nơi đất cát pha, đất trũng để tránh thấm nước từ ngoài vào hố, đắp bờ xung quanh miệng hố để tránh nước mưa tràn vào. Dùng các chất dẻo như ni lông hoặc đơn giản nhất là lót bằng lá chuối ở khắp nền, quanh thành hố khi ủ thức ăn. Các tấm lót cần chuẩn bị nhiều để lót cao miệng hố nhằm có thể gấp lại để đóng kín hố ủ. Loại hố này đơn giản, ít tốn kém nhưng thức ăn dễ hỏng, đặc biệt ở quanh thành hố và đáy hố. Loại hố tốt nhất là được xây bằng gạch chắc chắn, thường chọn đáy nền hình vuông hoặc hình chữ nhật để dễ nén chặt thức ăn, đỡ hư hao thức ăn quanh thành và đáy hố. Tùy vào mức nước bề mặt của nông trại mà bà con quyết định xây hố chìm, nổi hoặc nửa chìm nửa nổi. Số lượng hố và kích thước các chiều tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng, khối lượng thức ăn có sẵn và quy mô đàn gia súc. Tuy nhiên, trong quy mô chăn nuôi gia súc nhai lại nông hộ thì chỉ nên xây 1 hoặc 1 vài hố ủ với thể tích 1,5 m3 (1 m x 1m x 1,5 m) là vừa tương ứng với 1 ngày công lao động và vừa dễ kiểm soát chất lượng thức ăn, dễ lấy thức ăn và dễ bảo quản, kiểm soát lượng thức ăn.

    1.2. Kỹ thuật nén rơm tươi trong hố ủ

    Điều quan trọng nhất để đảm bảo hiệu quả chất lượng thức ăn ủ chua là việc dậm nén thật kỹ lưỡng, nên bắt buộc phải xác định độ nén đã đạt yêu cầu chưa? Cách xác định độ nén chặt như sau:

    + Khi hố ủ còn trống tức khi chưa cho thức ăn vào, vạch ở mặt trong của hố ủ 1 vạch để đánh dấu khoảng cách 15-20 cm từ đáy hố lên.

    + Khi cho thức ăn vào hố đến vạch đã đánh dấu thì giậm nén cho tới khi lớp thức ăn tụt xuống còn 7-10 cm hoặc đo bằng tay như sau: Khép chặt 5 ngón tay và áp vào khoảng trống giữa vạch đánh dấu và bề mặt lớp thức ăn. Nếu vừa khít tức lớp thức ăn đã nén tốt.

    + Tiếp tục lại vạch lên thành trong của hố khoảng cách 15-20 cm, tính từ lớp thức ăn vừa nén xong. Tiếp tục chất thức ăn đã băm nhỏ vào hố ủ và đánh dấu tương ứng với bề rộng của 5 ngón tay khép lại. Cứ làm như vậy cho tới khi hố ủ đầy.

    Có thể nén bằng nhiều cách khác nhau như dùng vật nặng (búa, dao, gậy, gạch, …), dậm bằng chân, dùng máy lăn, máy đầm, …

    1.3. Một số phương pháp cụ thể

    1.3.1. ủ chua rơm tươi: Dùng các nguyên liệu theo tỷ lệ ở bảng sau:

    STT

    Tên nguyên liệu

    Khối lượng (kg)

    1

    Rơm tươi

    100

    2

    3 chủng vi khuẩn Lactic (E1,E2,E3)

    0,5

    3

    Rỉ mật đường

    5

    4

    Muối ăn

    0,5

    5

    Nước lã sạch

    70 -80 lít

    Rơm tươi được nhặt sạch tạp chất và băm nhỏ. Rải từng lớp rơm và tưới dung dịch rỉ mật đường- muối ăn - nước lã sạch với tỷ lệ như trên. Sau đó trộn đều (ở từng lớp) với tỷ lệ vi khuẩn Lắctíc (mua ở Viện Chăn nuôi Quốc gia, Viện Công nghệ sinh học, …).

    1.3.2. ủ rơm tươi với urê: Cứ 100 kg rơm tươi vừa thu hoạch trộn với 4 kg urê. Urê không cần hòa với nước vì rơm tươi đã có lượng nước tương đối cao (độ ẩm khoảng 50%). Vì vậy chỉ cần rải urê trực tiếp lên rơm theo từng lớp, cào trộn nhiều lần cho đều rồi nén chặt, sau đó mới tiếp tục đến lớp tiếp theo. Cứ lần lượt như vậy cho đến khi đầy hố.

    Cuối cùng, phủ hố ủ bằng bao nilon cho kín.

    Chú ý:Không tiến hành ủ rơm vào lúc trưa nắng, nhiệt độ cao vì độc tố 4-methyl-imidazol sẽ hình thành giữa đường glucose có trong rơm tươi với NH3 phân giải từ urê. Độc tố này có thể gây ngộ độc cho bò làm bò có triệu chứng như bị điên.

    1.4. Cách sử dụng

    Thường là sau 3 tuần ủ thì sử dụng cho gia súc ăn. Khi mở và đóng hố ủ cần nhanh tay. Nên bỏ lớp thức ăn trên cùng vì lớp này dễ nhiễm nấm mốc. Lượng thức ăn ủ chua sử dụng cho mỗi con hay cho cả đàn tùy thuộc vào lượng thức ăn thô xanh cần thay thế trong khẩu phần. Ví dụ, một con bò sữa có thể ăn tới 25 kg cây ngô ủ chua mỗi ngày nhưng chỉ nên cho ăn tối đa 15 kg/ngày thì lượng thức ăn ủ chua trong hố ủ 1,5 m3 có thể nuôi nó trong 50 ngày. Cho gia súc ăn thức ăn ủ xanh cần tăng liều lượng dần dần. Ngày đầu tiên chỉ nên cho ăn một lượng nhỏ, sau tăng dần và đến ngày thứ 3 hoặc thứ 4 thì cho ăn lượng tối đa cần thiết. Dù mức sử dụng như thế nào mỗi ngày cũng chỉ lấy thức ăn ủ chua ra một lần, lấy lần lượt từ trên xuống dưới, với lượng đủ cho đàn gia súc. Sau mỗi lần lấy thức ăn ra cần che đậy ngay hố lại một cách cẩn thận để tránh mưa nắng. Khi đã mở hố ủ thì cần sử dụng liên tục thức ăn ủ chua cho đến hết.

    2. Chế biến rơm khô

    2.1. ủ rơm khô với urê

    - Tỷ lệ nguyên liệu chế biến rơm khô ủ urê như sau:

    STT

    Tên nguyên liệu

    Khối lượng (kg)

    1

    Rơm khô (ẩm độ 12 -14%)

    100

    2

    Urê

    4

    3

    Muối ăn

    0,5

    4

    Nước lã sạch

    90-100 lít

    - Vật liệu chứa rơm (hố ủ): Tận dụng các điều kiện có sẵn của gia đình như các góc tường, bể xây, ô chuồng trống không nuôi gia súc, thậm chí ủ trong bao phân đạm, bao tải xác rắn, túi ni lông loại lớn, … Song mọi loại hố ủ cần đảm bảo tính chắc chắn, sạch sẽ và không gồ ghề để nén thức ăn được chặt chẽ và dễ dàng.

    - Vật liệu đệm lót, che phủ: Dùng các mảnh nilông, vải mưa rách, lá chuối, … ghép kín lại để đảm bảo thức ăn không nhiễm đất, cát bẩn và hạn chế thất thoát ure.

    - Các bước tiến hành

    + Thái rơm thành từng khúc 10-15 cm.

    + Hòa tan urê, muối vào nước theo tỷ lệ trên.

     

    + Lần lượt rải rơm vào hố ủ theo từng lớp 20 cm, trên mỗi lớp, tưới đều bằng odoa dung dịch urê- muối-nước đã khuấy hòa tan., lấy cào đảo qua đảo lại và dùng chân (có đeo ủng) dậm nén cho chặt. Cứ làm lần lượt như vậy cho tới khi hết lượng rơm cần ủ.                                                                   

    + Dùng vật liệu đệm lót phủ kín lại. Chặn cho chặt và kín hố ủ bằng gạch, ngói, củi khô, …. để không khí, nước mưa, vi sinh vật, … ở ngoài không lọt vào và khí amoniắc ở trong không bay ra được.

    - Cách sử dụng: Rơm sau khi ủ được 14 ngày (mùa Hè) - 21 ngày (mùa Đông) bắt đầu lấy ra cho gia súc ăn. Khi lấy rơm ủ cho gia súc ăn chỉ nên lấy ra ở một góc (không lật toàn bộ lớp đệm lót che phủ) lấy rơm xong lại lấp lớp đệm lót che phủ lên cho kín. Rơm ủ ure được trâu, bò ăn nhiều hơn 50-60% so với rơm không chế biến, mặt khác hàm lượng đạm trong rơm tăng lên gấp 2 lần vì vậy, có thể cho gia súc ăn tự do tùy khả năng của chúng. Tuy nhiên, cũng chỉ nên lấy lượng vừa ăn theo nhu cầu từng bữa để tránh lãng phí. Mỗi con trâu, bò có thể ăn khoảng 10 kg rơm ủ urê mỗi ngày.

     

    Mẹo nhỏ: Nên phơi rơm đã chế biến trong bóng mát 30-45 phút để bay bớt mùi urê trước khi cho ăn hoặc rắc lên trên một chút cỏ xanh để gia súc quen dần với mùi urê trong rơm ủ.

    2.2. ủ rơm khô với urê và vôi

    Chuẩn bị vật liệu, các bước tiến hành và cách sử dụng tương tự như phương pháp ủ urê chỉ khác tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu như sau:

    STT

    Tên nguyên liệu

    Khối lượng (kg)

    1

    Rơm khô (ẩm độ 12 -14%)

    100

    2

    Urê

    2,5; 4

    3

    Vôi tôi

    2-3; 0,5

    4

    Muối ăn

    0,5

    5

    Nước lã sạch

    70 -80 lít

    2.3. ủ rơm khô với vôi

    Trộn nguyên liệu trong bể chứa có nắp đậy kín theo tỷ lệ sau trong 3 ngày liên tục, mỗi ngày trộn 2 - 3 lần.

    STT

    Tên nguyên liệu

    Khối lượng
    (kg)

    1

    Rơm khô (ẩm độ 12-14%), đã băm nhỏ thành từng đoạn ngắn 6 -10 cm

    100

    2

    Nước vôi 1% (1kg vôi sống hoặc 3 kg vôi tôi hòa với 100 lít nước)

    600 lít

    Ngày thứ 4, vớt rơm lên giá phơi (Giá phơi kề cạnh bể chứa có thể bằng tre, thép đan hoặc xây cao hơn mặt đất 1-1,5m) và dội nước rửa sạch nước vôi. Cho gia súc ăn ngay, còn thừa thì rửa sạch vôi, phơi khô cất dự trữ. Kiềm hóa rơm bằng nước vôi làm tăng tỷ lệ tiêu hóa của rơm lên 7-8%. Mỗi ngày trâu, bò có thể ăn được khoảng 10 kg. Lúc đầu mùi hơi nồng nên trâu, bò chưa thích ăn thì nên cho ăn lẫn với rơm khô vẩy nước. Sau đó tăng dần lượng rơm tưới nước vôi. Muốn giảm bớt mùi nồng của vôi để gia súc nhai lại thích ăn hơn thì trước khi cho gia súc ăn nên trộn rơm với rỉ mật và ure theo tỷ lệ 3 kg rơm với 0,5 kg rỉ mật và 20 urê.

    2.4. ủ rơm khô với nước tro

    Dùng nước tro đặc (tỷ lệ xút đạt 2%) để kiềm hóa rơm theo tỷ lệ cứ 2,0-2,5 lít nước tro tưới cho 1 kg rơm khô. Chất rơm khô đã băm thái nhỏ (5-6cm) vào hố hoặc bể ủ theo từng lớp 10-15cm. Dùng odoa chứa dung dịch nước tro pha sẵn tưới đều cho từng lớp rơm cho rơm thấm đều nước tro. Sau mỗi lớp tưới lại phải dậm nén để tiết kiệm dung tích hố ủ và tránh bay hơi thất thoát kiềm. Sau ủ khoảng 2 - 3 tuần có thể cho trâu, bò ăn được.

    2.5. ủ rơm khô với vỏ dứa

    Rơm khô sẽ hút các chất dinh dưỡng từ quá trình phân hủy của vỏ dứa làm tăng giá trị dinh dưỡng cho rơm , làm mềm rơm, gia súc dễ ăn và ngon miệng. Phương pháp này sử dụng hố ủ và các vật liệu đệm, lót như các phương pháp ủ rơm khô khác. Mỗi lớp rơm rải một lớp vỏ dứa rồi nén chặt (mỗi lớp rơm hoặc vỏ dứa thường dày 10-20 cm). Cứ như vậy cho đến khi hết lượng rơm cần ủ hoặc đầy hố ủ. Sau 10 ngày cho gia súc ăn được. Cho ăn lần lượt từng lớp từ trên xuống dưới cho đến khi hết rơm trong hố ủ. Khi mở ra và đậy hố ủ cần phải nhanh tay để tránh vi khuẩn và không khí xâm nhập làm thối rơm ủ.  

                                                                   Sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Sa Kin @ 22:50 24/05/2013
    Số lượt xem: 641
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    THỬ TÀI CỦA BẠN

    THÔNG MINH CHƯA ????


    Chọn 1 trong 8 phương án A, B, C, D, E, F, G, H .
    Làm đủ các câu nhấn Menu ở góc dưới bên phải màn hình và chọn Submit .

    Cười chút chơi

    Ảnh Gia Đình: